Showing posts with label KINH TẾ. Show all posts
Showing posts with label KINH TẾ. Show all posts

Friday, May 20, 2016

Có hai điểm chính được chú ý trong hướng dự kiến “cứu” Hoàng Anh Gia Lai...

Ông Đoàn Nguyên Đức, người đứng đầu Công ty Cổ phần Hoàng Anh Gia Lai (HAGL).

Mặc dù Ngân hàng Nhà nước chưa có văn bản chính thức báo cáo và xin ý kiến Thủ tướng Chính phủ, nhưng hướng tháo gỡ khó khăn về vốn vay cho Công ty Cổ phần Hoàng Anh Gia Lai (HAGL) bước đầu đã được gợi mở.
Qua cuộc họp đầu tuần này, các ngân hàng chủ nợ đã thống nhất quan điểm, báo cáo Ngân hàng Nhà nước, để cơ quan này xem xét, chốt lại những điểm nào vượt thẩm quyền thì có thể đề xuất hoặc xin chỉ đạo từ Thủ tướng Chính phủ.
Hai điểm nhạy cảm
Như báo chí thông tin mới đây, có hai điểm chính mà các ngân hàng chủ nợ đề xuất để cơ cấu lại nợ cho HAGL, gồm: cơ cấu, gia hạn các khoản vay mà không phải chuyển nhóm nợ; thứ hai là Ngân hàng Nhà nước thực hiện tái cấp vốn để hỗ trợ các ngân hàng xử lý.
Cả hai điểm trên đều khá nhạy cảm, vì liên quan đến lợi ích, sự công bằng, trách nhiệm, vấn đề nợ xấu và thậm chí là cả câu chuyện dùng ngân sách nhà nước để hỗ trợ hay không.
Một số thông tin bước đầu đưa ra lo ngại rằng, nếu thực hiện hai hướng hỗ trợ trên, Ngân hàng Nhà nước phải đối diện với áp lực dư luận về vấn đề nợ xấu tiếp tục bị lẩn khuất trong nhận diện; các ngân hàng chủ nợ được nhượng bộ về chi phí trích lập dự phòng khi nợ không phải chuyển nhóm; nếu thực hiện tái cấp vốn để hỗ trợ thì dường như đụng đến ngân sách và sự công bằng, vì có nhiều doanh nghiệp khác cũng khó khăn mà không được hỗ trợ như vậy…
Riêng trường hợp HAGL và các ngân hàng chủ nợ, những lo ngại trên không phải là không hợp lý, thậm chí có yêu cầu về sự trả giá, trách nhiệm trong câu chuyện kinh doanh, cho vay và sử dụng vốn vay.
Tuy nhiên, cả hai điểm nhạy cảm trên, cũng như việc “cứu” HAGL, đặt trong thực tế chung của hoạt động ngân hàng, hoạt động của các doanh nghiệp, trong cơ chế chính sách của Việt Nam những năm gần đây, lại rất… bình thường.
Ưu ái riêng hay cá biệt?
Ở điểm thứ nhất, việc gia hạn nợ, miễn phạt, giảm lãi… của các ngân hàng đối với doanh nghiệp vay vốn là quyền của các ngân hàng thương mại, theo quy định của pháp luật.
Không chỉ HAGL, bất cứ doanh nghiệp vay vốn nào khi gặp khó khăn, các ngân hàng phải ngồi lại để tìm hướng tháo gỡ, hỗ trợ vượt qua. Để doanh nghiệp phá sản, siết nợ và thanh lý tài sản là bước cuối cùng.
Tuy nhiên, vấn đề ở đây là đi cùng với quá trình trên là đề xuất không phải chuyển nhóm nợ của HAGL khi cơ cấu lại. Vì sao phải làm như vậy?
Ngân hàng sẽ bớt áp lực nợ xấu trên sổ sách, bớt phải trích lập chi phí dự phòng khi nợ không phải chuyển nhóm. Nợ xấu theo đó không được nhận diện đúng và đầy đủ. Đó là góc nhìn thẳng.
Nhưng nhìn vào mục đích cứu doanh nghiệp, khi nợ không phải chuyển nhóm, họ không bị xem là nợ xấu, để không bị chiếu theo quy định hiện hành mà không vay được vốn mới. Mặt khác, nếu bị nợ xấu, tín nhiệm của họ bị hạ, càng khó khăn trong làm ăn. Nếu nợ không bị chuyển nhóm, doanh nghiệp vẫn có cơ hội để tìm vốn khắc phục khó khăn, không bị sập cửa cơ hội mà có thể dẫn tới sập tiệm.
Vậy thì đề xuất trên có phải là ưu ái riêng cho HAGL không, có phải là cá biệt không?
Phía các chủ nợ mà VnEconomy tìm hiểu đều khẳng định: trước nay HAGL có lịch sử tín dụng tốt, vay trả rõ ràng và tuân thủ tốt các điều kiện, quy chế vay vốn.
Nay họ gặp khó khăn, điều không may là cơ chế cho cơ cấu lại nợ mà không phải chuyển nhóm mà Ngân hàng Nhà nước cho phép đã vừa kết thúc.
Cụ thể, trong ba năm qua, theo Quyết định 780 và chuyển tiếp trong Thông tư 09 của Ngân hàng Nhà nước, hàng trăm nghìn doanh nghiệp khó khăn, cùng quy mô dư nợ từng lên tới khoảng 300.000 tỷ đồng, đã từng được cơ cấu lại và không phải chuyển nhóm.
Chính sách trên đang từng tạo tiền lệ rộng lớn, quy mô lớn, thậm chí vẫn đang tiếp tục tại nhiều doanh nghiệp (và có lẽ cũng đã cứu được nhiều doanh nghiệp, góp phần để nền kinh tế không bị xấu hơn).
Đặt trong thực tế rộng lớn đó, đề xuất cơ cấu nợ mà không phải chuyển nhóm cho HAGL không phải là ưu ái riêng và không phải là cá biệt.
Ở điểm thứ hai, đề xuất Ngân hàng Nhà nước thực hiện tái cấp vốn cho các ngân hàng chủ nợ để tạo điều kiện hỗ trợ trong việc này, các quy định pháp lý cũng đã định sẵn.
Đó là quy định và cơ chế cho vay tái cấp vốn hiện hành. Trong quá trình hoạt động, bất cứ ngân hàng thương mại nào cũng được phép “xin” vay tái cấp vốn từ Ngân hàng Nhà nước. Vấn đề còn lại là họ có đáp ứng được các điều kiện mà cơ chế đưa ra hay không.
Lãi suất tái cấp vốn cũng được quy định cụ thể tại từng thời kỳ, không theo ý chí chủ quan của Ngân hàng Nhà nước cho bất cứ trường hợp nào (riêng lãi suất tái cấp vốn qua kênh trái phiếu VAMC phải do Thủ tướng Chính phủ quyết định).
Nếu có bất thường và có biểu hiện không công bằng trong hoạt động này, thì có lẽ phải sửa đổi và chặt chẽ hơn trong các quy định của luật.
Vì sao lại “cứu”?
Như trên, phía các ngân hàng chủ nợ khẳng định HAGL có lịch sử tín dụng tốt. Vậy thì, khi doanh nghiệp gặp khó khăn, đóng sập cửa cơ hội, bắt họ phá sản để thanh lý tài sản, thu hồi nợ không phải là biện pháp đầu tiên.
Thứ hai, bao giờ các bên cũng sẽ xem xét nguyên do khó khăn từ đâu. Theo các ngân hàng chủ nợ, cũng như nhận diện từ Ngân hàng Nhà nước, HAGL gặp khó khăn chính khi đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, do rủi ro khách quan và khó lường từ biến động giá trên thị trường thế giới (đặc biệt ở lĩnh vực cao su).
Với hai điểm trên, đương nhiên ngân hàng và nhà quản lý không thể quay lưng, nhất là khi rủi ro xuất phát từ lĩnh vực mà Nhà nước khuyến khích đầu tư.
Mặt khác, HAGL là một doanh nghiệp đối ngoại điển hình của Việt Nam, khi có các hoạt động đầu tư lớn tại Campuchia, Lào và Myanmar… Một phần lớn khó khăn cũng gắn với hoạt động đầu tư đối ngoại này.
Xem xét cứu doanh nghiệp khi khó khăn hơn là bỏ và buông ngay mà không hẳn rồi sẽ gọn. Nhưng chắc chắn cả HAGL và các ngân hàng chủ nợ sẽ phải khắt khe hơn khi đánh giá triển vọng phục hồi, triển vọng khắc phục những bất cập trong hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty này, triển vọng thành công bền vững nếu được “cứu” và sau khi được “cứu”.
Còn ở góc nhìn của thị trường, đâu đó hẳn vẫn là một sự khắt khe và cả mong muốn: bao giờ trách nhiệm tiếp vốn, quản lý rủi ro và nhận diện nợ xấu của các ngân hàng Việt Nam mới thực sự được xác định rõ ràng hơn?
Minh Đức
VNECONOMY

Thursday, February 4, 2016

Mặc dù hiện nay đã có những doanh nghiệp tư nhân lớn, có tên tuổi tại Việt Nam nhưng để kể ra một cái tên đại diện cho quốc gia (giống như nói đến Samsung là nói đến Hàn Quốc, nhắc đến Toyota là nhắc đến Nhật Bản), thì gần như là không có.

  • Vì sao Việt Nam chưa có doanh nghiệp tư nhân lớn như Samsung, Toyota,...?

Kinh tế Việt Nam năm 2015 khép lại với điểm sáng như tăng trưởng đặt gần 6,7% nhưng lạm phát chỉ dưới 1%, kinh tế vĩ mô ổn định trong bối cảnh kinh tế thế giới, Trung Quốc, tỷ giá các đồng tiền trong khu vực biến động mạnh.
Tuy nhiên động lực tăng trưởng kinh tế hiện phụ thuộc nhiều vào khu vực kinh tế đầu tư nước ngoài (FDI).
Theo đó các doanh nghiệp FDI đã xuất khẩu 115,1 tỷ USD, tương đương 71% giá trị xuất khẩu năm 2015. Tỷ lệ đóng góp tăng thêm 30% so với mức 41% năm 2009. Theo các chuyên gia kinh tế, động lực đến từ xuất khẩu FDI không bền vững và dễ thay đổi nhanh chóng khi những ưu đãi của chính sách thay đổi.
Động lực tăng trưởng bền vững theo ý kiến nhiều chuyên gia phải là khu vực doanh nghiệp trong nước.
Khu vực kinh tế trong nước bao gồm: Doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân và hộ kinh doanh. Trong 3 thành phần cấu thành này, doanh nghiệp tư nhân được xem là đóng vai trò quan trọng nhất.
Doanh nghiệp tư nhân ở đâu trong nền kinh tế?
Theo PGS.TS Vũ Đình Hòe- phó tổng biên tập thời báo kinh tế Việt Nam, khu vực doanh nghiệp tư nhân giữ phát trò quan trọng trong việc phát triển sức sản xuất, phát huy nội lực trong phát triển kinh tế- xã hội, góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng thu ngân sách, đồng thời tham gia giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội như tạo việc làm, xóa đói, giảm nghèo.
Bộ trưởng Bộ kế hoạch và đầu tư Bùi Quang Vinh cũng từng chỉ ra vai trò quan trọng của loại hình doanh nghiệp này. Theo đó, ước tính năm 2013-2014, khu vực doanh nghiệp tư nhân (DNTN) đóng góp gần 50% GDP, 33% thu ngân sách nhà nước, 40% vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội và đặc biệt có vai trò quan trọng trong tạo việc làm, nâng cao đời sống người lao động.
Ông Vinh cho biết trung bình mỗi năm, DNTN tạo ra hơn 500 nghìn việc làm, chiếm 62% tổng số việc làm trong toàn bộ khối doanh nghiệp. Đồng thời đem lại thu nhập bình quân trên lao động là 42 triệu đồng/năm vào năm 2010 lên 74 triệu đồng/năm vào năm 2014.
Cùng với việc ra đời Luật doanh nghiệp năm 1999, loại hình DNTN được tạo điều kiện phát triển và bùng nổ về số lượng. Từ khi đất nước mở cửa đến nay, nhiều DNTN có tên tuổi như Vingroup, Hoàng Anh Gia Lai, FPT, Thiên Long,… đóng góp không nhỏ vào nền kinh tế.
Không riêng tại Việt Nam, doanh nghiệp tư nhân còn đóng vai trò lớn trong nền kinh tế nhiều nước trên thế giới.
Hai ví dụ đối lập có thể thấy là: Cuba có dân số 11 triệu người, thành phố New York có 8 triệu người nhưng tổng GDP của New York đạt trên 1.000 tỷ USD trong khi tổng GDP của Cuba chỉ đạt trên 70 triệu USD.
Sự khác biệt của 2 nền kinh tế này là Cuba gần như không có DNTN, chủ yếu là DNNN trong khi New York chủ yếu là DNTN chứ không tồn tại DN nhà nước.
Vì sao Việt Nam chưa có doanh nghiệp tư nhân lớn như Samsung, Toyota?
Mặc dù hiện nay đã có những doanh nghiệp tư nhân lớn, có tên tuổi tại Việt Nam nhưng đây chỉ là số ít. Theo bộ trưởng Vinh, trên thực tế đa số DNTN hiện có quy mô nhỏ và vừa. Vốn bình quân của loại hình doanh nghiệp này chỉ bằng 1,5% mức vốn bình quân của 1 doanh nghiệp nhà nước và 19% của doanh nghiệp FDI.
Tài sản cố định bình quân của DNTN cũng chỉ dao động ở mức 4-7 tỷ đồng/DN và chỉ bằng 1% của DNNN và 5% của doanh nghiệp FDI. Mặc dù chiếm đông đảo về số lượng nhưng tổng tài sản cố định và đầu tư dài hạn của loại hình doanh nghiệp này chỉ chiếm khoảng 40% tổng toàn bộ khối doanh nghiệp.
Với quy mô nhỏ và vừa nên DNTN hiện gặp phải vấn đề thứ 2 là hạn chế về công nghệ, thiếu vốn, trình độ nhân lực không cao. Đa số các DNTN chưa có tầm nhìn, chiến lược kinh doanh dài hạn và thiếu sản phẩm mũi nhọn có khả năng cạnh tranh trên thị trường.
Ngoài ra quy mô vốn nhỏ khiến DNTN bị yếu thế trong cạnh tranh tiếp cận các nguồn lực sản xuất và không đủ sức tích lũy, đầu tư để vươn ra thị trường quốc tế.
Để phát huy sức mạnh của DNTN từ đó tạo động lực bền vững cho nền kinh tế, bộ trưởng Vinh cho biết một số giải pháp đã và cần được Chính phủ triển khai như tích cực cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh thông qua hoàn thiện khung pháp lý với những đổi mới tư tưởng mạnh mẽ.
Luật đầu tư và Luật doanh nghiệp (sửa đổi) thông qua năm 2014 thay đổi tích cực như: doanh nghiệp được quyền tự do kinh doanh tất cả các ngành, nghề mà pháp luật không cấm, minh bạch hóa điều kiện kinh doanh, dơn giản hóa và giảm rào cản gia nhập thị trường, chú trọng chuyển công tác quản lý nhà nước từ tiền kiểm sang hậu kiểm,…
Ông Vinh còn cho biết Nhà nước cần đẩy mạnh các chính sách khuyến khích đầu tư, hỗ trợ đổi mới công nghệ, thiết bị kỹ thuật nhằm nâng cao năng lực công nghệ cho DNTN, hỗ trợ tiếp cận vốn, khai thác thị trường.
Ngoài ra việc đầu tư nhân lực cũng quan trọng không kém, Nhà nước cần triển khai các hoạt động hỗ trợ giúp phát triển đội ngũ doanh nhân, trang bị những kiến thức quản trị và hội nhập cho DNTN.
Kim Thủy
Theo Trí Thức Trẻ

Thursday, January 14, 2016

Dầu WTI và Brent đồng loạt chìm xuống đáy 12 năm sát 30 USD/thùng vào ngày thứ Ba

Hàng loạt chuyên viên phân tích tại các tổ chức tài chính lớn như Barclays, Macquarie, Bank of America Merrill Lynch, Standard Chartered (StanChart) và Societe Generale đã đồng loạt hạ dự báo giá dầu 2016 vào ngày thứ Hai, trong đó StanChart đưa ra dự báo bi quan nhất.

 
“Chúng tôi cho rằng giá dầu có thể xuống tới 10 USD/thùng trước khi hầu hết các nhà quản lý quỹ trên thị trường đều thừa nhận rằng vấn đề đã đi quá xa”, StanChart cho biết trong báo cáo.
Bên cạnh đó, theo MarketWatch, các nhà phân tích Morgan Stanley cho biết, đà tăng 5% của đồng USD so với giỏ tiền tệ có thể khiến giá dầu lao dốc từ 10%-25%, đồng nghĩa với việc nhiên liệu này sẽ giảm tới 8 USD/thùng. “Do đà tăng giá liên tục của đồng USD, kịch bản giá dầu từ 20-25 USD/thùng là hoàn toàn có khả năng xảy ra”, các nhà phân tích trên cho biết trong báo cáo.
Giá dầu thô tiếp tục lao dốc mạnh về mức 30 USD/thùng tại thị trường châu Á vào ngày thứ Ba (12/01) do đà tăng mạnh của đồng USD và mối lo ngại về các thị trường Trung Quốc đã ảnh hưởng đến tâm lý nhà đầu tư.
Diễn biến của thị trường dầu gắn liền với nhu cầu từ Trung Quốc cũng như đà tăng của đồng bạc xanh, nhận định của nhà kinh tế Vishnu Varathan tại Mizuho Bank.
Trong phiên điện tử trên sàn Globex, hợp đồng dầu thô ngọt nhẹ giao tháng 2 trên sàn Nymex (WTI) trượt dài 2.3% xuống 30.68 USD/thùng. Hợp đồng dầu Brent giao tháng 2 trên sàn ICE Futures cũng lao dốc 2.6% xuống 30.73 USD/thùng. Cả hai hợp đồng này đều đang giao dịch gần mức thấp nhất trong 12 năm và đã đánh mất tổng cộng tới 17% trong năm nay chỉ sau 12 ngày. Hiện nhiên liệu này đã sụt tổng cộng 70% so với tháng 7/2014, thời điểm thị trường dầu bắt đầu lao dốc cho tới nay.
Được biết, trong phiên giao dịch ngày thứ Hai, dầu WTI ngã nhào hơn 5% trong khi dầu Brent bốc hơi 6%./.

Friday, December 18, 2015

Những sự kiện tác động lớn nhất tới kinh tế Việt Nam năm qua có thể gói gọn trong 3 vấn đề: FTA, Mỹ và Trung Quốc. Trong đó, 2015 có thể coi là năm "bội thu" các Hiệp định tự do thương mại của Việt Nam.

8 sự kiện kinh tế năm 2015 có thể thay đổi hoàn toàn tương lai Việt Nam
1. Hoàn tất đàm phán hiệp định thế kỷ - TPP
Sau nỗ lực suốt 5 năm đàm phán, vào đầu tháng 10/2015, 12 nước TPP đã có tiếng nói chung. Đối với Việt Nam, một đất nước có GDP vào loại thấp nhất so với các thành viên còn lại, TPP vừa mở ra một cơ hội, đồng thời cũng là thách thức lớn.
Theo các chuyên gia kinh tế, trong điều kiện các yếu tố khác đều thuận lợi, TPP có thể giúp GDP Việt Nam tăng thêm 23,5 tỷ USD vào năm 2020 và 33,5 tỷ USD vào năm 2025.
Đối với xuất khẩu và đầu tư, sẽ phát triển theo hướng đẩy mạnh xuất khẩu sang các nước thành viên khi thuế quan dần giảm về 0%, thu hút đầu tư vốn ngoại vào thị trường Việt Nam tăng cao.
2. Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và EU - EVFTA

Bộ trưởng Công Thương - Vũ Huy Hoàng và Cao ủy Thương mại EU - Cecilia Malmstrom ký Hiệp định với sự chứng kiến của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Chủ tịch EC Jean-Claude Juncker. Ảnh: Internet.
Bộ trưởng Công Thương - Vũ Huy Hoàng và Cao ủy Thương mại EU - Cecilia Malmstrom ký Hiệp định với sự chứng kiến của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Chủ tịch EC Jean-Claude Juncker. Ảnh: Internet.
Ngày 2/12 vừa qua, Việt Nam và EU chính thức kết thúc đàm phán Hiệp định Thương mại tự do.
Các tác động tích cực của EVFTA bao gồm: Mở rộng hơn nữa thị trường cho hàng xuất khẩu, đặc biệt là những sản phẩm mà hai bên có thế mạnh như dệt may, giày dép, nông thủy sản, đồ gỗ của Việt Nam và máy móc, thiết bị, ô tô, xe máy, đồ uống có cồn, một số loại nông sản của EU. Việt Nam và EU sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với hơn 99% số dòng thuế. Đây có thể coi là mức cam kết cao nhất mà Việt Nam đạt được trong các Hiệp định FTA đã được ký kết cho tới nay. So với TPP, hưởng lợi của Việt Nam từ EVFTA cũng không hề thua kém.
Quan trọng hơn, EVFTA đã tính toán tới lợi thế cạnh tranh của Việt Nam với các quốc gia EU. Điều này được thể hiện qua các mặt hàng trao đổi giữa các quốc gia, đẩy mạnh xuất khẩu những mặt hàng Việt Nam có ưu thế.
3. FTA Việt Nam - Liên minh Á Âu

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ký Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh Kinh tế Á-Âu. (Ảnh: Đức Tám/TTXVN) 
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ký Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh Kinh tế Á-Âu. (Ảnh: Đức Tám/TTXVN) 
Tối ngày 29/5, tại Kazakhsatn, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã thay mặt Chính phủ Việt Nam chính thức ký bản hiệp định thương mại tự do (FTA) giữa Việt Nam và các nước thành viên Liên minh Kinh tế Á - Âu (EEU), gồm Nga, Armenia, Belarus, Kazakhstan và Kyrgyzstan.
Về tổng thể, hai bên dự kiến sẽ dành cho nhau mức mở cửa thị trường hàng hóa chiếm vào khoảng 90% số dòng thuế, tương đương vào khoảng trên 90% kim ngạch thương mại song phương.
Theo đánh giá bước đầu của Liên minh, sau khi hiệp định có hiệu lực, kim ngạch xuất nhập khẩu hai bên sẽ đạt 10 - 12 tỷ USD vào năm 2020 (năm 2014 đạt khoảng 4 tỷ USD).
Trong giai đoạn tới, khi thực hiện hiệp định EEUV-FTA, phía Liên minh xóa bỏ thuế ngay đối với nhiều nhóm mặt hàng xuất khẩu chủ lực có kim ngạch lớn của Việt Nam sang Liên minh như dệt may, giày dép, nông sản, thủy sản, hàng điện tử…
4. Trung Quốc phá giá đồng nhân dân tệ
Hôm 11/8, Trung Quốc đã chính thức tuyên bố phá giá nhân dân tệ 1,9%. Chỉ trong vòng 3 ngày, đồng NDT đã giảm 4,6 % so với đồng USD. Sau nhiều lần tăng giảm liên tiếp, vào sáng 14/12, Ngân hàng Trung ương Trung Quốc một lần nữa phá giá đồng Nhân dân tệ. Theo đó, một đô la Mỹ giờ đổi được 6,4495 NDT.
Thực tế làn sóng phá giá đồng tiền của mình đã diễn ra tại rất nhiều các quốc gia trong khu vực trong năm nay. Lần lượt Philippine, Indonesia,... đều phá giá rất mạnh đồng tiền. Việc Trung Quốc phá giá liên tiếp đồng Nhân dân tệ (NDT) sẽ tác động trực tiếp tới kinh tế Việt Nam, đặc biệt là vấn đề xuất khẩu.
5. Nới room cho nhà đầu tư ngoại
Chính phủ vừa ban hành Nghị định 60/2015 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 58/2012. Nghị định 60 không giới hạn tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài. Chứng khoán SSI là công ty đầu tiên nới room ngoại lên 100% vào đầu tháng 9 năm nay.
Tuy nhiên, sự hồ hởi của SSI không tạo thành trào lưu. Hầu hết các công ty trên sàn vẫn đang chờ hướng dẫn cụ thể trước khi quyết định nới room cho khối ngoại.
6. Giá dầu lao dốc không phanh
Nếu đầu năm 2015, giá dầu còn neo ở ngưỡng khoảng 60 USD/thùng thì vào những ngày cuối năm, giá dầu đã “rớt” xuống gần mức thấp kỷ lục của năm 2008, giao dịch quanh mốc dưới 40 USD/thùng và đang làm dấy lên những lo ngại có thể rơi về mức 20USD/thùng.
Việc giá dầu giảm liên tục trong khi các quốc gia cam kết không giảm sản lượng đang khiến các nước xuất khẩu dầu gặp nhiều khó khăn, trong đó có Việt Nam.
Một chuyên gia kinh tế đã nhận định, nếu giá dầu tiếp tục giảm sâu sẽ có những tác động tiêu cực đến nền kinh tế Việt Nam và có thể làm giảm 2 điểm phần trăm tăng trưởng GDP năm 2016. Tuy nhiên, với việc đóng góp từ xuất khẩu dầu giảm từ 20% GDP xuống chỉ còn 6,7% như Chính phủ thông báo, tác động sẽ không quá nghiêm trọng.
7. Thành lập Cộng đồng kinh tế ASEAN - AEC
Theo tiến trình hội nhập, chỉ còn hơn 2 tuần nữa là Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) sẽ chính thức hình thành (ngày 1/1/2016).
Trong số các FTA thì sự cắt giảm thuế quan trong Cộng đồng kinh tế ASEAN là cao nhất hiện nay, cao hơn cả so với TPP và các FTA khác. Về tự do hàng hóa và dịch vụ thì sự cam kết trong AEC cũng cao nhất.
Cơ hội cho doanh nghiệp khi AEC hình thành đó là mở ra nhiều thị trường cho doanh nghiệp, tạo khí thế và động lực mới cho doanh nghiệp…
8. Fed tăng lãi suất

Chờ cuộc họp Tháng 9 của Fed. Ảnh NYT
Chờ cuộc họp Tháng 9 của Fed. Ảnh NYT
Sau cuộc họp kéo dài 2 ngày, rạng sáng 17/12 (theo giờ Việt Nam) Ủy ban thị trường mở (FOMC) đã nhất trí nâng lãi suất lần đầu tiên trong gần 1 thập kỷ, từ mức 0 – 0,25% lên 0,25 – 0,5%. FOMC cũng dự báo đến cuối năm 2016, lãi suất sẽ ở mức khoảng 1,375%.
Việc Fed nâng lãi suất đồng USD lên cũng đã được các chuyên gia trong nước dự báo từ khá lâu và cho rằng ​nó sẽ gây áp lực lên tỷ giá USD tại Việt Nam. Hiện tại, tỉ giá đồng USD/VND đã kịch trần. Nếu áp lực tiếp tục lớn, NHNN sẽ buộc phải tiến hành nới biên độ.
Mặt trái của việc đồng USD mạnh lên là lòng tin của người dân vào VND có thể bị lung lay và nó có thể tác động tới lạm phát vì hàng nhập khẩu có thể phải trả một lượng tiền đồng lớn hơn, nợ công cũng tăng lên nếu tính bằng tiền đồng.
An Nhiên
Theo Trí Thức Trẻ

Thursday, December 10, 2015

5 tháng sau khi Trung Quốc khiến cả thế giới sốc vì đột ngột phá giá nhân dân tệ và làm dấy lên nỗi lo về một cuộc chiến tranh tiền tệ, các nhà đầu tư nhận thấy dường như lịch sử đang lặp lại.

Nhân dân tệ liên tục giảm giá, nguy cơ chiến tranh tiền tệ lại xuất hiện
Tuần này, tỷ giá nhân dân tệ đã giảm xuống mức thấp nhất 4 tuần và thị trường dự báo đồng nội tệ của Trung Quốc sẽ còn giảm sâu hơn nữa.
Nhân dân tệ đã giảm giá 2 phiên liên tiếp. Sau khi NHTW Trung Quốc (PBOC) hạ tỷ giá chính thức xuống còn 6,4236 nhân dân tệ đổi 1 USD, thấp hơn 0,15% so với mức của ngày hôm trước, phiên hôm nay (10/12), nhân dân tệ mở cửa ở mức thấp nhất kể từ tháng 8. PBOC cho phép tỷ giá nhân dân tệ giao ngay tăng hoặc giảm tối đa 2% so với tỷ giá chính thức.
Theo Chang Wei Liang, chiến lược gia kinh doanh ngoại hối tại ngân hàng Mizuho, nhà đầu tư nhìn vào đà giảm của nhân dân tệ trong thời gian gần đây và đang suy đoán rằng đây chính là chủ ý của PBOC.
Nếu suy đoán này là đúng, có thể các thị trường mới nổi khác ở châu Á cũng sẽ hạ giá đồng nội tệ nhằm bảo vệ lợi thế cạnh tranh của họ.
“Những tác động đối với thị trường tiền tệ châu Á và rộng hơn là toàn bộ các thị trường mới nổi là rất rõ ràng. Nhân dân tệ giảm giá sâu hơn nữa sẽ tạo ra nguy cơ chiến tranh tiền tệ, có thể đó là một cuộc chiến trực tiếp với những động thái của các nhà hoạch định chính sách những cũng có thể là một cuộc chiến gián tiếp gây ra bởi những nhà đầu tư ồ ạt bán ra các đồng tiền châu Á. Những yếu tố này đe dọa sự ổn định của hệ thống tiền tệ trên thị trường mới nổi”, Jason Daw – chuyên gia đến từ Societe Generale – nhận định.
Trong khi đó, Nizam Idris, chuyên gia nghiên cứu về tiền tệ và trái phiếu tại Macquarie, lại cho rằng các NHTW châu Á sẽ không quá dị ứng về tình trạng đồng nội tệ giảm giá mạnh. “Họ quá phụ thuộc vào xuất khẩu, bởi vậy không phải lúc nào một đồng nội tệ yếu hơn cũng là điều tồi tệ”.
Nhiều khả năng các NHTW đã can thiệp vào thị trường trong thời gian vừa qua nhằm ngăn tiền tệ của họ giảm giá sâu hơn nữa (như Malaysia và Indonesia) sẽ không lặp lại hành động này. Đồng thời, ngoài tác động từ PBOC, những yếu tố trong nước cũng sẽ ảnh hưởng đến quyết định của các NHTW.
Những nền kinh tế hướng về xuất khẩu như Hàn Quốc thường được coi là mong manh nhất trước một đồng nhân dân tệ yếu hơn. Tuy nhiên, tại một cuộc họp báo diễn ra hôm nay (10/12), Thống đốc NHTW Hàn Quốc Lee Ju-yeol đã đưa ra nhận định hoàn toàn ngược lại. “Tôi không nghĩ rằng nhân dân tệ sẽ tiếp tục giảm giá. Hơn nữa những tác động tiêu cực đến kinh tế Hàn Quốc sẽ được giảm thiểu vì chúng ta có thỏa thuận tự do thương mại với Trung Quốc”.
Không phải ai cũng đặt cược vào kịch bản nhân dân tệ tiếp tục suy yếu và chiến tranh tiền tệ lại nổ ra. Ngân hàng Mizuho tin rằng các thị trường đã hiểu nhầm ý định của PBOC, vì tuần trước Phó Thống đốc PBOC Yi Gang vừa tuyên bố không có cơ sở nào để Trung Quốc tiếp tục phá giá nhân dân tệ.
Dẫu vậy, với tình hình sức khỏe kinh tế Trung Quốc hiện nay và chỉ số giá sản xuất đã sụt giảm 45 tháng liên tiếp, PBOC không còn nhiều lựa chọn.
“Trung Quốc cần phải phá giá nhân dân tệ sâu hơn nữa để điều chỉnh cán cân thanh toán cũng như giành lại quyền kiểm soát đối với các điều kiện trên thị trường tiền tệ và chấm dứt chu kỳ giảm phát”, Jeremy Stevens – chuyên gia nghiên cứu kinh tế châu Á tại Standard Bank – nhận định.
Theo Thu Hương
CafeF/Tri thức trẻ